Chẩn Đoán Và Hiểu Đúng Về Bệnh Mất Ngủ: Nền Tảng Quyết Định Hiệu Quả Trị Mất Ngủ Bằng Đông Y

Chẩn Đoán Và Hiểu Đúng Về Bệnh Mất Ngủ: Nền Tảng Quyết Định Hiệu Quả Trị Mất Ngủ Bằng Đông Y

Mất ngủ không chỉ đơn thuần là sự trằn trọc thâu đêm, mà là một hội chứng phức tạp làm suy giảm nghiêm trọng cả thể chất lẫn tinh thần người bệnh. Rất nhiều người khi gặp tình trạng này thường vội vàng tìm kiếm thuốc uống mà bỏ qua bước quan trọng nhất: thấu hiểu và đánh giá đúng tình trạng giấc ngủ của chính mình.

Thực tế, để quá trình trị mất ngủ bằng đông y đạt hiệu quả tận gốc và an toàn, việc chẩn đoán chính xác nguyên nhân, phân biệt rõ mất ngủ thật – giả, cũng như thực hiện các kiểm tra lâm sàng cần thiết là bước đệm không thể thiếu. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho bạn góc nhìn chi tiết về các tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ hiện nay, những xét nghiệm y khoa cần thực hiện, và định nghĩa chuẩn xác về một giấc ngủ khỏe mạnh. Việc nắm vững những kiến thức nền tảng này sẽ giúp bạn phối hợp tốt hơn với các y bác sĩ, từ đó ứng dụng các liệu pháp y học cổ truyền một cách chuẩn xác để nhanh chóng tìm lại giấc ngủ sâu tự nhiên.

  I. Chẩn đoán mất ngủ như thế nào? 

Mất ngủ là một dạng chướng ngại giấc ngủ thường gặp nhất, chủ yếu chỉ sự khởi đầu và duy trì giấc ngủ xảy ra chướng ngại, khiến cho chất và lượng của giấc ngủ không thể đáp ứng nhu cầu sinh lý của cơ thể, từ đó ban ngày xuất hiện các cảm giác khó chịu như mệt nhọc buồn ngủ, tinh thần sa sút, kém tập trung, đầu óc không tỉnh táo, tâm trạng suy sụp v.v. Do đó, trong chẩn đoán lâm sàng mất ngủ bắt buộc phải có lời than phiền về rối loạn chức năng sinh lý giấc ngủ với thời lượng giấc ngủ bị giảm, đồng thời phải có các triệu chứng khó chịu về cơ thể như mệt nhọc buồn ngủ ban ngày, đầu óc choáng váng do thiếu ngủ. Trên đa ký giấc ngủ (Polysomnography), có thể đưa ra đánh giá khách quan về chứng mất ngủ. Tiêu chuẩn thông dụng quốc tế là:

(1) Thời gian tiềm phục giấc ngủ kéo dài (vượt quá 30 phút).

(2) Thời gian ngủ thực tế giảm (mỗi đêm dưới 6,5 giờ).

(3) Thời gian thức giấc tăng lên (mỗi đêm trên 30 phút).

Hiện tại, hầu hết các chẩn đoán về chướng ngại giấc ngủ đều thuộc về chẩn đoán triệu chứng. Do đó, việc chẩn đoán mất ngủ chủ yếu nên dựa trên các triệu chứng chủ quan của bệnh nhân, thông qua thăm hỏi bệnh để nắm bắt, và kết hợp với kiểm tra khách quan để làm rõ. Ngoài ra, bắt buộc phải làm rõ là mất ngủ thực sự hay mất ngủ giả, mất ngủ giả có một số sai lầm trong nhận thức đáng lưu ý. Một là cho rằng thời gian ngủ mỗi ngày dưới 6 – 7 giờ tức là mất ngủ, mà không ý thức được rằng việc đánh giá thời gian ngủ bình thường phải lấy thói quen ngủ bình thường của bản thân làm tiêu chuẩn xác định; Hai là coi sự biến động trong phạm vi bình thường của thời gian ngủ là mất ngủ. Ví dụ như người cao tuổi so với người trẻ tuổi thì thời gian ngủ vốn đã giảm, mất ngủ tạm thời do yếu tố bên ngoài và kích thích tinh thần gây ra là phản ứng bình thường của cơ thể v.v.; Ba là sai lầm trong cảm giác tự thân, coi mệt mỏi vô lực là mất ngủ, nhưng trên thực tế ban đêm ngủ rất ngon. Thái độ và nhận thức của bệnh nhân đối với chứng mất ngủ, bản thân điều này có thể chính là nguyên nhân khiến một số bệnh nhân bị mất ngủ kéo dài hoặc mất ngủ chữa mãi không khỏi.   

II. Bệnh nhân mất ngủ thường phải làm những kiểm tra gì? Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến mất ngủ, nhiều căn bệnh cơ thể hoặc chướng ngại tinh thần đều có thể kèm theo mất ngủ. Do đó, đối với tất cả bệnh nhân mất ngủ, đều nên kiểm tra sức khỏe chi tiết, tìm kiếm nguyên nhân, tránh bỏ sót chẩn đoán. (1) Tìm hiểu chi tiết về bệnh sử. Bao gồm biểu hiện triệu chứng mất ngủ, mức độ nghiêm trọng, hoàn cảnh xảy ra mất ngủ, các yếu tố trực tiếp, gián tiếp gây ra mất ngủ, các triệu chứng đi kèm với mất ngủ, trước đây có mắc bệnh lý cơ thể nào không, có tiền sử dùng thuốc hay không, có thay đổi thói quen sinh hoạt, ăn uống hay không cũng như trải nghiệm chủ quan và tâm trạng của bệnh nhân khi mất ngủ v.v., thì mới có thể tiến hành các xét nghiệm khác một cách có trọng tâm hơn.

(2) Dựa trên các đặc điểm bệnh sử đã tìm hiểu để tiến hành kiểm tra thể chất một cách hệ thống và có trọng tâm đối với bệnh nhân, làm rõ xem các cơ quan nội tạng có bệnh tật hay không; hệ thống thần kinh não bộ có bất thường hay không; có bệnh rối loạn tâm thần hay không.

(3) Thông qua việc tìm hiểu bệnh sử và kiểm tra thể chất để đưa ra ấn tượng ban đầu, sau đó tùy theo nhu cầu để tiến hành các xét nghiệm liên quan. Đối với bệnh mất ngủ, trọng điểm là áp dụng các xét nghiệm về bệnh lý não bộ và tình trạng chức năng, trong đó bao gồm: Điện não đồ, chụp X-quang sọ não, chụp mạch máu não, siêu âm não, lưu huyết não đồ, chụp đồng vị phóng xạ, CT não, chụp cộng hưởng từ não v.v. Nếu phát hiện có bệnh lý cơ thể, còn cần phải tiến hành một số xét nghiệm cận lâm sàng hoặc xét nghiệm đặc biệt có mục tiêu, như mỡ máu, đường huyết, kiểm tra hàm lượng thuốc trong cơ thể (định tính, định lượng), xét nghiệm dịch não tủy và các sản phẩm chuyển hóa bất thường, chức năng gan, điện tâm đồ v.v. Khi cần thiết có thể đo tỷ lệ trao đổi chất cơ bản, xét nghiệm nội tiết v.v.

(4) Do mất ngủ có liên quan mật thiết với tính cách không tốt, suy nghĩ quá nhiều, chấn thương tinh thần cùng các yếu tố tâm lý và yếu tố môi trường, để làm rõ vai trò của các yếu tố sinh lý tâm lý, còn cần tiến hành các trắc nghiệm tâm lý, đánh giá nhân cách, kiểm tra trí thông minh v.v., ví dụ như tiến hành bảng tự đánh giá triệu chứng (SCL-90), thang đo lo âu, trầm cảm để hỗ trợ chẩn đoán. Cụ thể tiến hành phương pháp kiểm tra nào nêu trên, còn tùy thuộc vào tình trạng cụ thể của bệnh nhân.  

 III. Bệnh nhân mất ngủ cần làm những kiểm tra đặc biệt nào? Kiểm tra sức khỏe đặc biệt cho tình trạng mất ngủ chủ yếu dựa vào điện não đồ giấc ngủ hoặc đa ký giấc ngủ (Polysomnography), nó có thể tìm hiểu tình trạng chính xác về giấc ngủ của bệnh nhân mất ngủ, một số còn có thể suy đoán và phát hiện ra nguyên nhân gây mất ngủ, giúp bệnh nhân mất ngủ mạn tính phân biệt rõ ràng ranh giới giữa giấc ngủ và sự tỉnh táo. Nhưng thiết bị của nó đắt tiền, thao tác tốn thời gian, ở nước ta chưa được phổ biến, và chưa thể bị thay thế hoàn toàn bởi các kỹ thuật kiểm tra khác.

(1) Điện não đồ giấc ngủ và đa ký giấc ngủ: Cho đến nay đây là phương tiện đáng tin cậy duy nhất có thể phản ánh và chẩn đoán mất ngủ một cách toàn diện, khách quan và định lượng, có thể tiến hành phân tích và đánh giá chất và lượng của tình trạng mất ngủ, ngoài ra còn giúp ích cho việc chẩn đoán nguyên nhân bệnh lý của một số trường hợp mất ngủ, có thể lựa chọn tiến hành kiểm tra.

(2) Điện đồ hoạt động chi: Có thể được sử dụng để theo dõi chu kỳ hoạt động và nghỉ ngơi ngày đêm có tính nhịp điệu cùng các đặc điểm của nó, từ đó phán đoán hai trạng thái khác nhau là thức giấc và giấc ngủ. Nhược điểm là độ nhạy và độ chính xác khá kém, sai số lớn, và không thể sử dụng để phân biệt các giai đoạn khác nhau của giấc ngủ, do đó không thể so sánh với điện não đồ giấc ngủ hoặc đa ký giấc ngủ. Vì vậy, công dụng chủ yếu của nó trong bệnh mất ngủ là: ① Đóng vai trò như một cơ sở chẩn đoán khách quan mang tính bổ sung cho chứng mất ngủ. ② Đóng vai trò như một phương tiện sàng lọc sơ bộ trước khi tiến hành kiểm tra điện não đồ giấc ngủ hoặc đa ký giấc ngủ.

(3) Ngoài ra, còn có các phương tiện kiểm tra khác có thể lựa chọn ứng dụng như thiết bị đánh dấu thức giấc, mũ ngủ đo điện não (nightcap), đệm giường nhạy cảm với vi chuyển động v.v.  

 IV. Như thế nào mới được coi là giấc ngủ khỏe mạnh? Chất lượng giấc ngủ chủ yếu chỉ độ sâu của giấc ngủ và thời gian giấc ngủ, giấc ngủ có chất lượng cao là chỉ việc thông qua thời gian ngủ bình thường (trung bình 7 – 8 giờ), sau khi thức dậy toàn thân thoải mái, cảm giác mệt mỏi biến mất, đầu óc tỉnh táo, có thể làm việc và tham gia các hoạt động với tinh thần sung mãn. Giấc ngủ không phải càng nhiều càng tốt, có những người dù thời gian ngủ dài hay ngắn, thì cả ngày đều cảm thấy mệt mỏi vô lực, đầu óc choáng váng, tinh thần uể oải, trí nhớ suy giảm, thiếu tập trung, tính tình nóng nảy v.v., ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc và cuộc sống hàng ngày. Đây đều là do độ sâu của giấc ngủ không đủ gây ra, mặc dù thời gian ngủ đã vượt quá thời gian ngủ cần thiết cho cơ thể bình thường. Giấc ngủ được chia thành giấc ngủ nông và giấc ngủ sâu, chỉ khi giấc ngủ sâu đạt đến một tiêu chuẩn nhất định thì mới có thể đảm bảo một mức chất lượng giấc ngủ nhất định, nếu không, mặc dù thời gian ngủ rất dài, cơ thể cũng không được phục hồi, biểu hiện bằng chất lượng giấc ngủ không cao. Thông thường, yêu cầu của cơ thể về giấc ngủ là thanh niên, tráng niên mỗi đêm ngủ 7 – 9 giờ, trẻ em thanh thiếu niên tăng thêm 1 – 3 giờ, người cao tuổi giảm 1 – 3 giờ, đây là yêu cầu về lượng (thời gian) giấc ngủ của các độ tuổi khác nhau. Lên giường trong vòng nửa giờ là có thể ngủ được, ngủ một giấc đến sáng hoặc tỉnh giấc 1 lần, không phải liên tục tỉnh giấc nhiều lần hoặc thức giấc sớm; không mơ hoặc ít mơ, không phải nhiều mộng mị hoặc ác mộng; ngủ sâu giấc, không phải là ngủ lơ mơ, hoặc dễ bị môi trường làm phiền, giật mình tỉnh giấc, đây là yêu cầu về chất lượng giấc ngủ. Ngoài ra, thời gian ngủ tốt nhất của con người nên là từ 10 giờ tối đến 6 giờ sáng, người cao tuổi sớm hơn một chút là 9 giờ tối đến 5 giờ sáng, trẻ em là 8 giờ tối đến 6 giờ sáng. Đây chỉ là một con số trung bình đại khái, thời gian ngủ cần thiết mỗi ngày của mỗi người có sự khác biệt rất lớn, điều này có liên quan đến nhiều yếu tố như tính cách, tình trạng sức khỏe, môi trường làm việc, cường độ lao động của con người, cũng có mối liên hệ nhất định với thói quen ngủ của mỗi người. Trong cuộc sống thực tế, có rất nhiều người có thời gian ngủ ít hơn nhiều so với thời gian nêu trên, nhưng họ vẫn làm việc và sinh hoạt rất tốt. Do đó, giấc ngủ tốt hay xấu, hoàn toàn không phụ thuộc vào thời gian ngủ, mà phải xem chất lượng giấc ngủ, tức là độ dài thời gian ngủ sâu trong toàn bộ giấc ngủ. Ví dụ, một số người cao tuổi cộng tổng thời gian ngủ mỗi ngày thường vượt quá 7 – 8 giờ, nhưng vẫn luôn buồn ngủ, nguyên nhân chính là người cao tuổi thời gian thực sự có thể đạt đến giấc ngủ sâu và trung bình không nhiều, mà phần lớn thời gian trôi qua trong giấc ngủ nông và nhẹ, nên chất lượng không cao. Ngược lại, một số người có tổng thời gian ngủ không dài, nhưng có thể đảm bảo một khoảng thời gian ngủ sâu nhất định, cũng có thể đạt được hiệu quả nghỉ ngơi rất tốt, sẽ không thường xuyên ngáp, cảm thấy “thiếu ngủ”. Vì vậy, giấc ngủ tốt hay xấu không nên đơn giản lấy độ dài thời gian ngủ ra để đo lường, mà nên đánh giá bằng việc nó đã xua tan đi được sự mệt mỏi, tinh thần có sung mãn hay không.   

V. Người trưởng thành khỏe mạnh một ngày cần ngủ bao nhiêu lâu?Một người trưởng thành khỏe mạnh nên ngủ bao nhiêu lâu trong 24 giờ một ngày mới có thể thực sự đảm bảo nhu cầu sức khỏe, đây là vấn đề được mọi người khá quan tâm và có đông đảo nhân viên nghiên cứu khoa học chú ý nghiên cứu. Khoảng thời gian này xét từ các tình huống được tài liệu liên quan giới thiệu và thực tế cụ thể của con người, rất khó để quy định một cách cứng nhắc, chỉ là nói một cách đại khái mà thôi. Một cuộc khảo sát bảng hỏi với một triệu người phát hiện ra rằng, những người trưởng thành có thời gian ngủ mỗi ngày trong khoảng 7 – 9 giờ chiếm đại đa số, khoảng 80%. Một kết quả khảo sát khác với 800 người cho thấy, thời gian ngủ trung bình là 8,5 giờ. Trong thực tế còn có một số người ngủ dài, thời gian ngủ một ngày của họ phải ở mức 10 – 11 giờ, nhưng tình trạng này chỉ chiếm 1% – 2% tổng số người. Trên đời cũng có những cá nhân ngủ ngắn, mỗi ngày họ chỉ ngủ 3 – 5 giờ mà vẫn có thể duy trì tinh thần hưng phấn. Nói tóm lại, thời gian ngủ là khác nhau tùy theo mỗi người, và không có cách nào quy định một thời gian tuyệt đối, thông thường chúng ta hay nói mỗi người mỗi ngày phải ngủ đủ 8 giờ mới có thể đảm bảo sức khỏe, chỉ là giá trị trung bình mà thôi. Nhưng tỷ lệ của người bình thường vẫn chiếm phần lớn, thời gian ngủ mỗi ngày của người bình thường có thể tham khảo giá trị thời gian ngủ cơ bản là khoảng 8 giờ này. 

Nếu bạn đang gặp các vấn đề về mất ngủ và đang tìm kiếm giải pháp điều trị mất ngủ bằng đông y, hãy liên hệ:

Screenshot

#MatNgu #TriMatNgu #TriMatNguBangDongY #ChanDoanMatNgu #MatNguKinhNien #GiacNguKhoeManh #SucKhoeGiacNgu #ChuaMatNguHieuQua #YhocCotruyen

Similar Posts